Hiển thị các bài đăng có nhãn Bồi bổ cơ thể. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bồi bổ cơ thể. Hiển thị tất cả bài đăng

Thời điểm nào cần cung cấp vitamin E đối với cơ thể chinh xác

 Chỉ cung cấp các vitamin A, D, E bằng thuốc theo chỉ định của bác sĩ khi có các dấu hiệu thiếu hụt

Các vitamin tan trong dầu được người tiêu dùng biết đến nhiều nhất là vitamin A, D, E… Chúng có biện pháp ở dạng đơn lẻ hoặc phối hợp với các vitamin và khoáng chất khác. Vậy 3 loại vitamin này quan trọng làm thế nào với cơ thể? Và khi nào cần bồi dưỡng?


Vitamin A: Rất cần thiết cho các bộ phân cơ thể, đóng vai trò chính quan trọng trong hoạt động của thị giác (nếu thiếu sẽ gây bệnh quáng gà, khô mắt, loét giác mạc); trên biểu mô và các tổ chức da, vitamin A (đặc biệt axít retinoic) kích thích biệt hóa tế bào biểu mô, sinh tiết nhầy, ức chế sự sừng hóa tế bào biểu mô. Người thiếu vitamin A dễ bị mẫn cảm với các chất gây ung thư và các tế bào nền của biểu mô ở những vùng khác nhau tăng sản rõ rệt và giảm khả năng biệt hóa. Tuy nhiên, cơ chế công dụng chống ung thư của vitamin A vẫn chưa được giải thích đầy đủ nhưng có biện pháp vitamin A điều hòa sự sinh tổng hợp protein, đặc biệt cần thiết cho sự biệt hóa tế bào của tổ chức biểu mô này và ức chế sự nhân lên của tế bào ung thư. Trên chức năng miễn dịch, vitamin A tăng sức đề kháng của cơ thể.


Vitamin A được dùng trong các trường hợp: Bệnh khô mắt, quáng gà, trẻ chậm lớn dễ mắc các bệnh nhiễm trùng, suy dinh dưỡng; bệnh trứng cá, da, tóc, móng khô, bệnh á sừng, bệnh vẩy nến; hỗ trợ trong chữa trị ung thư da, cổ tử cung, đại tràng, phổi và phòng, làm chậm quá trình lão hóa.


Khi các bộ phân cơ thể bị thiếu vitamin A sẽ có các triệu chứng như tăng sừng hóa biểu mô, da khô, thoái hóa tuyến mồ hôi, nhiễm trùng da, quáng gà, khô màng tiếp hợp, khô giác mạc có cách gặp viêm loét giác mạc dễ gây ra mù lòa và toàn bộ cơ thể dễ bị nhiễm trùng hô hấp, tiết niệu, sinh dục và chậm lớn, chán ăn...



Vitamin D: Được dùng trong phòng và chống còi xương ở trẻ em, phòng và chống loãng xương, nhuyễn xương ở người lớn, người gãy xương lâu lành; phòng và chống co giật trong suy cận giáp… Vitamin D có tác dụng tăng hấp thu canxi ở ruột và tái hấp thu canxi ở ống thận; phối hợp với hormone cận giáp điều hòa nồng độ canxi trong máu và tăng tích tụ canxi trong xương…


Việc thiếu vitamin D có giải pháp do giảm hấp thu ở ruột, suy cận giáp, dùng viên uống ức chế enzym gan, người ít tiếp xúc với nắng. Thiếu vitamin D có dấu hiệu giảm canxi và phosphat trong máu, có thể gặp cơn hạ canxi máu. Thiếu lâu dài đưa đến còi xương ở trẻ em và nhuyễn xương ở người lớn.


Vitamin E: Người ta thấy vai trò của vitamin E là tăng cườngsản sinh tinh trùng và khả năng thụ thai, làm tổ của trứng đã thụ thai; ngăn cản sự tạo thành gốc tự do, làm vững bền màng tế bào đặc biệt khi có mặt vitamin C và các chất có chứa nhóm SH; tăng hấp thu và dự trữ vitamin A nhưng lại làm giảm một số triệu chứng của sự thừa vitamin A... Vì vậy, vitamin E được dùng trong các trường hợp: dọa sẩy thai, phụ nữ bị sẩy thai liên tiếp, vô sinh; teo cơ; thiếu máu, tan máu, bệnh xơ cứng bì ở trẻ em và lipid máu cao... Ngoài ra, vitamin E còn được dùng để tránh lão hóa (thường dùng chế phẩm phối hợp vitamin E với coenzym Q, axít amin chứa lưu huỳnh hoặc β - caroten, vitamin C và selen); cận thị tiến triển do giảm sự ôxy hóa của β- caroten ; chứng đái dầm sau đẻ hoặc rối loạn kinh nguyệt...


Thiếu hụt vitamin E làm dài thêm sẽ gây giảm phản xạ, giảm nhạy cảm xúc giác, yếu cơ, teo cơ phì đại, giảm sinh sản tinh trùng, giảm khả năng thụ thai, dọa sẩy thai, đẻ non, tổn thương cơ tim, thiếu máu, tan máu và rung giật nhãn cầu...


Cần lưu ý: Chỉ bổ sung các vitamin trên bằng thuốc uống (theo chỉ định của bác sĩ) khi có các dấu hiệu thiếu hụt như đã nêu trên. Lý do là khi dùng thừa sẽ tích lũy trong cơ thể gây nên các rối loạn do thừa vitamin. Vì vậy, phải dùng hết sức thận trọng.

Những ai trong chúng mình cần bồi dưỡng vitamin B12 cho cơ thể

 Vitamin B12 (viết tắt là B12) đã được biết đến từ lâu. Năm 1948, nhà khoa học Rickes và cộng sự đã phân lập được từ gan một chất kết tinh màu đỏ đặt tên là B12. Những năm sau đó, các công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã phát hiện ra lượng B12 mà các bộ phân cơ thể cần tới hàng ngày, nó có ở một vài nguồn thức ăn nào và khi các bộ phân cơ thể thiếu B12 thì có những triệu chứng gì... Mấy năm gần đây lại có thêm một số tìm hiểu mới bổ sung cho B12.

Trong các bộ phân cơ thể các động vật ăn cỏ, B12 được tổng hợp bởi hệ vi khuẩn đường ruột, sau đó được hấp thu. Hàm lượng B12  tính theo microgam (mcg) có trong 100 gam thức ăn tươi như sau: thịt bò 2 -8, thận bò 20 -50, gan bò 30 -130, sữa bò 0,2 - 0,6, thịt lợn 0,1 - 5, lòng đỏ trứng 1,2... Các thực phẩm thực vật, rau quả hầu như không xẩy ra B12. Trong thực phẩm, B12 đều ở dạng phức hợp với protein. B12 khá bền vững với nhiệt độ trong nấu ăn, trừ khi trong môi trường kiềm và nhiệt độ quá 100oC. Sữa đun sôi 2 -5 phút mất 30% B12, thịt luộc 45 phút mất khoảng 30% B12...


Thiếu B12 và triệu chứng bệnh


Nhu cầu B12 hàng ngày theo RDA (khẩu phần dinh dưỡng khuyến khích) là 2mcg cho nam và nữ trưởng thành. Phụ nữ có thai và cho con bú thì 2,2mcg.


B12 được hấp thu qua thức ăn nhờ một yếu tố nội tại chống thiếu máu của dịch vị là gastromucoprotein, nếu thiếu yếu tố này B12 sẽ bị làm biến mất, do đó trong điều trị người ta thường dùng B12 dạng thuốc tiêm.


Nhân dân thường gọi vitamin là thuốc uống bổ, vì cơ thể cần có chúng mới duy trì được sức khỏe, nếu thiếu một vitamin nào đó dễ gây ra bệnh tật. Với B12 cũng vậy, hầu hết thiếu B12 ở người là do kém hấp thu B12, do thiếu yếu tố nội tại, hay giảm hoặc mất có chức năng hấp thu đặc hiệu của đoạn cuối ruột non. Những người dễ bị thiếu B12 gồm: những người ăn chay trường diễn hoàn toàn không ăn thực phẩm nguồn gốc động vật. Những người bệnh viêm teo niêm mạc dạ dày, hoặc đã phẫu thuật cắt bỏ một phần hay hầu hết dạ dày. Người có bệnh ở ruột non, phần ruột bệnh bao gồm cả phần cuối ruột non như bệnh Sprue, bệnh viêm ruột vùng, đã cắt đoạn ruột hoặc nối tắc ruột.


Nếu thiếu B12  sẽ rối loạnchế tạo máu ở tuỷ xương, gây ra thiếu máu nguyên bào khổng lồ do hồng cầu không trưởng thành được. Người bệnh xanh xao, dễ mệt yếu, ăn mất ngon, hay hồi hộp "đánh trống ngực", đau đầu, khó thở... Ngoài ra, còn có các biểu hiện về thần kinh như dị cảm (cảm giác tê dần, buồn buồn như kiến bò), giảm cảm giác vị thế (chứng thất điều, đi đứng xiêu vẹo), khả năng trí óc giảm, hạ huyết áp tư thế đứng...



B12 với người bệnh ung thư


B12 đặc biệt có công dụng tốt với nhiều người bệnh, vì nó giúp cho sự phân chia và tái tạo của tổ chức, giúp tổng hợp mạnh protein và chuyển hoá lipid do đó giúp cho sự trưởng thành của các bộ phân cơ thể. B12 tham gia phản ứng tổng hợp thymidylate - một thành phần trong phân tử ADN, bồi bổ nguyên liệu để tổng hợp ADN, góp phần vào quá trình phân chia tế bào và trưởng thành tế bào trong toàn bộ cơ thể. Nhưng với bệnh nhân ung thư thì ngược lại. Bởi người ta cảm thấy: khối u ác tính có một số biểu hiện sinh hóa của một tổ chức đang phát triển mạnh, tăng những chất protein có trọng lượng phân tử nhỏ, tăng loại acid amin đồng phân D (bình thường phần lớn là đồng phân L), tăng AND và ARN do tăng phân bào và tăng tổng hợp protein. Ngoài ra, còn tăng các acid béo không bão hoà, tăng phospho lipid, lecithine và cholesterol, tăng giáng hóa glucid theo con đường yếm khí...


Với một vài nguyên nhân nói trên của khối u ác tính, người ta không muốn "đổ thêm dầu vào lửa", mà khuyên không được dùng B12  cho người bệnh ung thư, vì nó có biện pháp tăng cường tốc độ phát triển của tế bào ung thư làm cho ung thư phát triển nhanh.


Ngoài ra, B12 còn không nên dùng cho người bệnh trứng cá, người có tiền sử dị ứng viên uống, người bệnh thiếu máu chưa rõ nguyên do.


Một vài tìm hiểu gần đây


Thiếu B12 và dị tật ở thai nhi


Phụ nữ có bầu nếu các bộ phân cơ thể thiếu acid folic (còn gọi là vitamin B9) sinh ra con luôn luôn bị dị tật nứt đốt sống thần kinh, nhiều người đã biết. Nhưng công trình tìm hiểu công bố năm 2004 của các nhà khoa học thuộc Trường đại học Y khoa Nijmegen, Hà Lan cho biết thêm nếu chỉ riêng acid folic thôi thì chưa đủ, mà quý cô bầu bí còn cần thêm cả B12. Nghiên cứu được thực hiện trên 45 bà mẹ có con bị nứt đốt sống, so với 83 bà mẹ khác có con không bị dị tật. Kết quả định lượng B12 trong máu đã cho thấy: các bà mẹ có con bị dị tật nứt đốt sống, có hàm lượng B12 trong máu thấp hơn 21% so với các bà mẹ kia. Họ cũng cho biết, nếu thiếu B12 trầm trọng, tỉ lệ mắc dị tật này có giải pháp tăng lên gấp 3 lần.


B12 và não người cao tuổi


Các nhà nghiên cứu thuộc Trường đại học Oxford, Anh mới đây đã thông báo một kết quả tìm hiểu về ảnh hưởng của B12  đến não người cao tuổi. Họ đã tìm hiểu định lượng B12 trong máu của 1.000 người có độ tuổi từ 61 - 87, chụp cắt lớp não, kiểm tra trí nhớ. Những người này được theo dõi trong 5 năm. Kết quả thấy rằng một số người được bồi bổ B12, hoặc có hàm lượng B12 trong máu cao thì khối lượng não bị teo (kích thước não nhỏ dần theo tuổi ở người già) chỉ bằng 1/6 một số người già có hàm lượng B12 trong máu thấp hơn. Theo các nhà nghiên cứu công trình này thì có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động và trách nhiệm của não mà ta không thể kiểm soát được. Họ khuyên chỉ cần biến đổi trong chế độ ăn bao gồm việc tăng cường một số loại thức ăn giàu B12 có giải pháp giúp kìm hãm teo não ở người cao tuổi và cải thiện trí nhớ môt cách rất đáng khích lệ.

Thắc mắc về việc bồi bổ canxi để giúp trẻ con tăng trưởng chiều cao nhanh nhất

Bổ sung canxi là việc mỗi người đều biết nhưng có phải ai cũng hiểu cách bổ sung canxi một cách khoa học? 10 câu hỏi đi kèm giải đáp sau đây sẽ giúp bạn.
Có thể có được canxi từ trong rau không?
Đáp án: Có thể. Chúng ta đều biết uống sữa bổ canxi nhưng lại ít người biết rằng nhiều loại rau xanh như cải ngồng, cải bắp, cải xanh cũng có không ít canxi.
Các đồ hộp từ cá cũng chứa canxi vì xay nhuyễn xương trong đó, ví dụ như cá hồi, cá mòi. Nếu không dung nạp đủ canxi, nguy cơ loãng xương sẽ tìm đến làm phiền trẻ.
10 thắc mắc về bồi bổ canxi, tăng chiều cao đối với bé Trẻ trong bào thai có lấy canxi từ cơ thể mẹ không?

Có thể. Thai nhi trong tử cung dần dần lớn lên và cần nhiều canxi để kiến tạo xương, đặc biệt là thai nhi sau 3 tháng. Nếu bà bầu chưa dung nạp đầy đủ canxi, thai nhi sẽ giành hết canxi trong xương của mẹ. Vì vậy, bà bầu và thời kỳ đối với con bú cần ăn nhiều thực phẩm chứa canxi, cũng có thể uống viên cung cấp canxi theo chỉ dẫn của bác sỹ. Tuy nhiên, có một thông tin tốt là, canxi mất đi trong giai đoạn bầu và cho con bú có thể hồi phục sau này.
Giảm dung nạp canxi giúp phòng chống sỏi thận không?
Không thể. Mặc dù bệnh sỏi thận là do canxi oxalate cấu thành, nhưng canxi trong thực phẩm không phải là nguyên nhân dẫn đến sỏi thận. Tuy nhiên, cung cấp quá nhiều canxi sẽ tăng nguy cơ sỏi thận. Vì vậy, phòng ngừa bệnh sỏi thận nên bồi bổ lượng canxi thích hợp, không nên quá nhiều hay quá ít.
10 thắc mắc về cung cấp canxi, tăng chiều cao đối với bé


Canxi trong loại sữa nào nhiều nhất?



Sữa chua. Sữa chua nhiều canxi hơn phomat. Một cốc khoảng 227g sữa chua có thể bổ sung 1/3 lượng canxi cần mỗi ngày đối với cơ thể. Nước cam, sữa đậu nành cũng là nguồn canxi dạng mềm tốt. Khi uống các đồ uống có canxi mềm hóa, không nên quên lắc đều trước, bởi vì chất canxi thông thường sẽ đọng ở đáy hộp.


Độ tuổi nào cần canxi nhiều nhất?
Thanh thiếu niên. Thanh thiếu niên từ 10 -20 tuổi xương cốt phát triển rất nhanh, lúc này cần nhiều canxi, mỗi ngày ít nhất dung nạp 1300mg. Tức là mỗi ngày 2 cốc sữa, 1 cốc nước cam mềm hóa canxi hoặc 1 cốc sữa đậu cao canxi, 1 cốc sữa chua là đủ. Người trưởng thành thông thường cần ít canxi hơn, khoảng 1000mg/ngày.



Hàng ngày đều mất canxi trong các bộ phân cơ thể phải không?
Đúng thế. Canxi là một trong những khoáng chất quan trọng nhất của cơ thể, đa phần đều tích tụ ở trong xương và răng. Tuy nhiên mỗi ngày da đều trao đổi chất, ra mồ hôi, rụng tóc… để tổn hại đến canxi trong cơ thể. Cơ thể không thể tự sinh ra canxi, vì vậy cần dung nạp đủ lượng canxi từ thực phẩm và viên bổ sung canxi.


Canxi ở trong toàn bộ cơ thể có tác dụng mạnh khỏe xương cốt hay bảo vệ hệ miễn dịch?
Mạnh khỏe xương cốt. Cơ thể cần canxi để kiến tạo xương và giữ mạnh khỏe cho xương. Canxi còn các có trách nhiệm sinh lý khác như vận động cơ bắp trong cơ thể, truyền gửi tín hiệu của thần kinh. Ngoài ra còn trợ giúp vận chuyển máu, giúp giải phóng hoocmon và protein.


Kali, vitamin C hay D giúp hấp thụ canxi?
Vitamin D. Vitamin D là phụ nữ song hành tuyệt vời của canxi. Nếu không có vitamin D, bản thân các bộ phân cơ thể không thể hấp thụ canxi, tắm nắng là cách quan trọng bổ sung thêm dưỡng chất vitamin D. Cá béo như cá hồi, cá ngừ đều giàu vitamin D. Rất nhiều người cần uống viên bồi bổ canxi nhưng nên theo chỉ dẫn của bác sỹ.


Hàng ngày đều uống viên canxi cùng với bữa ăn?
Sai. Không phải toàn bộ viên bổ sung canxi đều uống cùng với bữa ăn. Loại thuốc canxi phổ biến nhất là canxi cacbonat và canxi citrate. Giá tiền của canxi cacbonat rẻ, uống cùng với bữa ăn có hữu hiệu tốt hơn. Canxi citrate không thể uống cùng với bữa ăn.


Lượng viên canxi càng lớn, sự hấp thụ càng nhiều?
Sai. Uống viên bồi bổ canxi nhiều không có lợi ích gì. Mỗi ngày chỉ cần uống 500mg là có tỉ lệ hấp thụ cao nhất